Làng nghề dát vàng Kiêu Kỵ - Nghề quý giá của dân tộc Việt Nam

Mục lục

1. Nghề dát vàng Kiêu Kỵ - Nghề truyền thống 300 năm

Nghề dát vàng Kiêu Kỵ là nghề thuộc xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Đây là làng nghề chuyên làm ra những sản phẩm dát vàng chất lượng cao giữa sự kết hợp từ sự khéo léo của những người thợ lành nghề và sự nhịp nhàng của một dây chuyền sản xuất khép kín hiện nay. 

Theo như tìm hiểu thì nghề dát vàng có từ 300 năm trước ở dưới thời Hậu Lê. Câu chuyện được kể rằng, thuở ấy, có ông Nguyễn Quý Trị, quê ở Hải Dương, là một người có tài, học rộng tài cao và được cử đi xứ ở bên Trung Quốc. trong thời gian sang đó, Nguyễn Quý Trị đã học được nghề dát vàng, bạc vào các đồ cúng cũng như hoành phi câu đối. Sau khi trở về nước, ông đã truyền lại nghề này cho người dân của làng Kiêu Kỵ và sau này, khi làng nghề đã mở rộng và phát triển hơn thì Nguyễn Quý Trị được xưng là ông tổ nghề, người dân đã chọn ngày mất của ông làm ngày Giỗ Tổ nghề. 

Nếu như các làng nghề khác trên đất Thăng Long xưa đều sẽ được truyền dạy cho cả những làng ở bên cạnh để mọi người có thể cùng nhau phát triển thì làng nghề dát vàng Kiêu Kỵ lại không như vậy. Theo như người dân truyền lại rằng thì ông Nguyễn Quý Trị chỉ truyền dạy nghề dát vàng này cho những người trong làng mà thôi. Hơn hết, những người được truyền dạy cần phải có sự trung thực và nhận được sự tin tưởng, biết giữ kín được bí quyết nghề là yêu cầu nghiêm ngặt với họ. 

Một tục lệ khác được giữ cho tới ngày nay chính là nếu như ai muốn theo nghề thì đều phải cúng Tổ nghề. Người dân làng Kiêu Kỵ quan niệm rằng, nếu như Tổ nghề cho phép họ làm nghề thì sản phẩm làm ra mới đẹp và có thể phát triển được. Còn nếu không nhận được sự cho phép của Tổ nghề thì sản phẩm làm ra sẽ xấu, thường bị chê và còn thường xuyên bị đánh vào tay nữa. 

Cũng giống như các làng nghề truyền thống khác ở Việt Nam, nghề dát vàng Kiêu Kỵ cũng đã trải qua những biến cố thăng trầm lịch sử. Từ sự phát triển hưng thịnh cho tới sự mai một tưởng chừng như biến mất khi số lượng hộ gia đình còn theo nghề này chỉ còn có từ 3 - 5 hộ. Tuy nhiên, với sự phát triển kinh tế hiện nay, đời sống của nhân dân cũng được nâng cao. Đặc biệt là sự quan tâm cũng như các chính sách nhằm mục đích trùng tu, tôn tạo lại các công trình văn hóa, di tích lịch sử và các làng nghề truyền thống của đất nước thì nghề dát vàng Kiêu Kỵ đã được hồi sinh và phát triển một cách mạnh mẽ cho tới ngày nay.

Một điều đặc biệt hiện nay chính là việc làng Kiêu Kỵ hiện là ngôi làng duy nhất còn làm nghề dát vàng này trên mảnh đất hình chữ S của chúng ta. Do vậy, người dân làng Kiêu Kỵ luôn tự hào về làng nghề cũng như các sản phẩm của mình. 

2. Quy trình làm nghề dát vàng Kiêu Kỵ

Để có được những sản phẩm bắt mắt, đẹp đẽ là những bức hoành phi câu đối, các sản phẩm tượng được dát vàng, dát bạc một cách hoàn chỉnh thì những người thợ làng Kiêu Kỵ phải thực hiện gần 40 công đoạn mới tạo ra được sản phẩm hoàn chỉnh. Các quy trình thực hiện của nghề dát vàng cũng giống như những nghề truyền thống khác, đều cần có sự khéo léo, cẩn trọng và công phu trong từng khâu thực hiện. Điều đáng nói là các công đoạn đều phải làm một cách tỉ mẩn bằng chính đôi bàn tay của những người thợ lành nghề làng Kiêu Kỵ và không có một thứ máy móc nào có thể thay thế được.

Để dát vàng, bạc vào các sản phẩm hiện nay thì người thợ sẽ phải thực hiện theo 3 quy trình công đoạn chính. Các công đoạn đó là: làm quỳ mới, Đập diệp và làm quỳ cũ, Thiếp lên sản phẩm.

Ở công đoạn làm quỳ mới, người thợ phải làm giấy giống và làm mực. Giấy làm giấy giống sẽ là giấy gió, loại giấy mà được người dân làng Kiêu  Kỵ cẩn thận lựa chọn từ những làng nghề làm giấy truyền thống như Yên Thái, chỉ những loại giấy có chất lượng tốt thì mới đảm bảo được chất lượng của quỳ vàng như độ dai và độ sáng bóng.  

Công đoạn tiếp theo chính là đập diệp. Đây được coi là một công đoạn khó, đòi hỏi sự công phu cũng như tay nghề của người thợ và cần được thực hiện một cách cẩn trọng. Bắt đầu từ một mảnh vàng hoặc bạc nguyên chất, người thợ sẽ dùng dụng cụ của mình là chiếc búa để đập mảnh vàng, bạc đó. Kết quả của việc đập này chính là mảnh vàng, bạc được đập phải thật mỏng và thật dài. nếu trong quá trình đập mà mảnh đó bị cứng quá và không được như ý thì người thợ sẽ cho vào trong lò ủ cho mềm ra và tiếp tục đập tiếp đến khi đạt yêu cầu thì thôi.

Sau khi đập diệp xong sẽ là công đoạn làm quỳ cũ. Lúc này, mảnh vàng, bạc mà người thợ đã đập đạt được kích thước như dài 1m và rộng 0,7cm thì người thợ sẽ chia nhỏ sợi đó ra thành 100 mảnh. Các mảnh được chia sẽ để nong vỡ, tức là nong các mảnh diệp vàng đó vào từng mảnh giấy vỡ hình vuông có kích thước 5,5cm. Các mảnh giấy vỡ vuông này đã được lướt mực nho sấy khô và được sấy trong lò qua một đêm rồi mới chuyển sang đập vỡ. 

Với công đoạn đập vỡ này thì cần phải thực hiện trong khoảng 1 giờ đồng hồ, cho đến khi lá vàng ở trong nong đã đạt đến hình vuông đều với kích cỡ khoảng 5cm thì lúc này mới chuyển sang để cắt vỡ. Những chiếc lá vàng này sẽ tiếp tục được những người thợ cắt nhỏ hơn nữa, tầm khoảng từ 9 -12 miếng hình vuông. những lá được cắt sẽ để ở giữa là quỳ mới và cũ, sau đó tiếp tục được đập mỏng hơn nữa.

Để xác định được các công đoạn trên đã chuẩn và chất lượng làm thì người thợ đánh quỳ sẽ phải thực hiện công đoạn của kình và thấy được bụi vàng, bạc nay ra như xám thì chứng tỏ vàng đã “giừ” và đạt chuẩn độ mỏng cần thiết. Lúc này, sẽ chuyển sang để thợ trại thực hiện công việc của mình. 

Trại quỳ chính là công đoạn cuối cùng trong khâu làm quỳ trước khi được chuyển sang cho thợ sơn để họ thực hiện các công đoạn thếp lên các sản phẩm sơn mài đồ gỗ hay hoành phi, câu đối,...

Việc thực hiện công đoạn làm quỳ cũng như đập các mảnh vàng bạc mỏng đạt đến mức độ cần thiết là cả một quá trình rèn luyện của người thợ làng Kiêu Kỵ. Công đoạn này được coi là không thể có một máy móc nào thay thế được và nó cần phải được thực hiện bởi người thợ có tay nghề và trình độ kỹ thuật cao. 

Lá quỳ khi được hoàn tất và dùng để sơn son thếp vàng thì cần đạt đến độ mỏng nhẹ, nếu bóp trên tay thì sẽ tan ra thành những mảnh vụn mịn màng, khiến người ta cảm giác như lá vàng đó tan thành bụi vậy. Tất nhiên, để có thể thực hiện được điều đó thì người thợ đã phải trải qua 40 công đoạn và tất cả những bước thực hiện đó cần tuân theo một quy trình nhất định, nghiêm ngặt và không được phép có sự nhầm lẫn giữa các khâu thực hiện. Một điều lưu ý và cũng là điều cấm đối với những người thợ trong khâu này là tuyệt đối không được ăn bớt hay làm tắt bất kỳ một công đoạn nào. Bởi nó sẽ ảnh hưởng, trực tiếp tới chất lượng của lá quỳ.

Công đoạn làm quỳ không chỉ công phu, tốn sức mà nó còn đòi hỏi ở sự kiên trì và sự tinh xảo, khéo léo của đôi bàn tay người thợ với các thao tác có kỹ thuật cao. Có lẽ, chính vì lý do này, mà việc làm quỳ trở nên độc đáo và không phải ai cũng có thể làm được. Sau khi hoàn thành thì người thợ sẽ dùng lá quỳ để thiếp lên các sản phẩm. không chỉ vậy, họa sĩ cũng có thể sử dụng lá quỳ để vẽ tranh sơn mài bằng cách dùng đầu bút vẽ dầu sơn chấm vào quỳ vàng.

Có thể nói, các công đoạn của nghề dát vàng tại làng Kiêu Kỵ không hề được thực hiện một cách dễ dàng. Hầu hết, người thợ đều cần phải thật khéo léo, tỉ mỉ và cẩn thận một cách tuyệt đối. Bởi chỉ một sai lầm nhỏ thôi cũng sẽ ảnh hưởng khá to lớn đến chất lượng lá quỳ và sau đó là ảnh hưởng đến sản phẩm sau này. 

3. Ứng dụng của nghề dát vàng Kiêu Kỵ

Hiện nay, đây được coi là nghề truyền thống khá phát triển hiện nay, và vẫn giữ được sự ổn định. Nhờ có nghề dát vàng truyền thống này mà vấn đề việc làm tại làng Kiêu Kỵ đã được giải quyết một cách ổn thỏa.

Một điều đặc biệt là việc chỉ truyền nghề cho người trong làng, nên hầu như mỗi cơ sở làm nghề tại làng Kiêu Kỵ hiện nay đều có khá nhiều nhân công thực hiện, và nguồn nhân lực chủ yếu là ở trong làng. Điều này đảm bảo được số lượng người theo nghề không bị mai một và tạo công ăn việc làm cho người lao động. Đảm bảo được việc giữ gìn nghề truyền thống cũng như chất lượng cuộc sống của nhân, giảm bớt sự thất nghiệp và đói nghèo do không có công việc.

Bên cạnh đó, việc sơn son thếp vàng vào các sản phẩm đồ cúng luôn là một điều rất cần thiết trong văn hóa của người Việt. Các công trình văn hóa lịch sử lớn hay các lĩnh vực hội họa khác đều có chịu sự tác động của nghề dát vàng. Bởi nghề dát vàng Kiêu Kỵ được đánh giá là rất phù hợp với các công việc sáng tạo với các sản phẩm tạc tượng, khắc hoành phi, câu đối hay tranh sơn mài. Các làng nghề nổi tiếng như Sơn Đông, Mai Động, Liên Ninh,...đều nhập sản phẩm từ làng Kiêu Kỵ mà thôi. 

4. Xu hướng phát triển và việc bảo tồn nghề truyền thống

Có thể nhận thấy hiện nay, nghề dát vàng Kiêu Kỵ hiện nay được phát triển thành hai loại chính. Đó chính là làm quỳ vàng bạc cựu và làm quỳ vàng bạc tân. 

Với cách làm quỳ vàng, bạc cựu tức là lá quỳ được tạo ra từ vàng và bạc thật. Còn với quỳ vàng, bạc tân thì được làm từ những mảnh thiếc là chính. Có một điều đặc biệt là làm quỳ vàng sẽ khó hơn so với quỳ bạc và không phải hộ gia đình hành nghề nào cũng làm được. 

Ngày nay để gìn giữ được nghề truyền thống này thì những người nghệ nhân đang phải truyền nghề dát vàng Kiêu Kỵ thông qua các buổi học và các lớp dạy nghề. Chính vì lý do này mà nghề dát vàng Kiêu Kỵ vẫn còn tồn tại và phát triển tới ngày nay. 

Mặc dù đây là nghề đòi hỏi sự công phu, kỹ thuật cao và khéo léo nhưng lại là nghề có sự ổn định và phát triển hơn hẳn. Mong rằng qua bài viết này các bạn đã hiểu hơn về nghề dát vàng Kiêu Kỵ cũng như các bước thực hiện. và hy vọng nghề dát quỳ vàng Kiêu Kỵ sẽ giữ được đặc sắc của mình và phát triển hơn nữa.

Đăng ngày 21/11/2020, 82 lượt xem